Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2015

QUẪN QUANH CHỮ NGHĨA VẼ VỜI

cũng như bao khúc gỗ chặt hạ trên rừng
ghế nhận về mình phần may mắn
có những khúc gỗ đẹp chắc hơn
nằm dưới đất bị mối mọt phá hủy
và những thân cây bị đốt
trơ mình thành cục than

ghế mỉm cười
nghe giọng khề khà
ngồi xuống vui reo
êm mềm dễ chịu
vỗ tay, cảm ơn nhiều
gật đầu thoải mái
ghế không hết hồn vía
như lưỡi dao chặt ngã hôm xưa

ghế lựa chọn
giơ tay
hắn ôm ghế
ghế ôm hắn            
dẫu gỗ mít
dẫu trống rỗng và nhiều xôi thịt

ghế mỉm cười lựa chọn
nói không với chữ nghĩa
thân xác hắn gồ ghề góc cạnh
ngồi xuống là đau
làm trầy xước mặt
chữ nghĩa xương chẳng bao giờ mập mạp
lúc thẳng tưng mổ xẻ
khi làm bồi
đi tìm trang giấy trắng
đi tìm bàn phím
viết gõ cho vui
quẫn quanh chữ nghĩa vẽ vời

chữ nghĩa thấm thời gian nhòe nhoẹt
bị ghế chối từ bị con chữ bỏ đi
chữ về đồng quê
chữ cày chữ cấy
cho bác nông dân cười
chữ vào nhà máy
rộn ràng thay ca
cho chị công nhân hát
chữ sống tươi tốt
trong cuộc đời thực và thế giới phẳng
ghế vui ở lại
bên tai om xòm

thị trường
dán trên mình đủ mác
ghế cho hắn dọa nạt múa mép
cho hắn luôn đúng mọi lúc mọi nơi
nhiều chữ thông minh
ghế mỉa mai sống mòn kiếp kiếp
ghế lên đời
hết gỗ đến nệm mút
hết đứng im đến xoay tròn

chữ nghĩa nhẹ tênh
ghế cầm không nỗi
ghế ngồi nặng trĩu
chữ nghĩa thổi bay

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015

VƯỢT VŨ MÔN

mưa xối xả    
nước tràn hồ ao ruộng đồng
cá tung tăng
thả bong bóng nở loang mặt nước
sóng trắng xóa tung lên

bơi ngược dòng chảy xiết
đuôi quẫy đạp lao lên phía trước
chép quăng thân vượt vũ môn
mưa thưa dần giọt rơi tí tách
vũ môn đọng đầy lớp vẩy cuộc đua

vượt qua vũ môn những con chép hóa rồng
ở trên cao vẫn còn mùi hôi tanh bùn ao hồ sông nước
chép mở mồm ngáp
không gian ơi ẩm độ thấp thế này
chép khuẩy vây nước ở đâu hả nước
chép mở mồm ngáp
hay dở kệ trời mây

không vượt qua vũ môn những con chép không hóa thành rồng
lặn sủi tăm về cầu ao bến nước
nhớ vết đau ngày trước
chép ngoi lên hớp ánh mặt trời
thấy trần gian úp nơm đánh giậm
thấy ruộng đồng nứt nẻ khô hạn

chép hóa rồng thành linh vật tưởng tượng trên không
nói lời mây mưa
“bao giờ trở lại ngày xưa”
chép không vượt vũ môn sống ở miền sông nước
cùng bạn bè đùa vui ca hát
nói đúng giọng của mình
đi bằng đuôi bằng vây
thở bằng mang
chép khóc
âm thanh nổi bọt thành nước mắt
chia sẻ với nhân gian

mặt nước lặng im
những con chép quẫy mình nơi dòng đục dòng trong
đám mây trên không tạc một nét rồng
đàn chép lượn lờ đớp bóng

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

NHÌN LẠI

thời gian nhìn lại
bao đau thương mồ hôi nước mắt
hành trình được mất
lòng tự trọng khí phách nơi nao
ngày vui ngày buồn cộng thành nhân cách

không và không
chịu khổ chịu nhục
sầm sập suốt con đường
ngực lấp lánh sắc màu lòe loẹt
vinh quang ám ảnh
anh hùng máu xương
nhắm mắt kinh hoàng
ngàn lần không thể được

không biết gật đầu giữa chốn đông vui
không ngợi ca chiến công hiển hách
không khen người đi vào sử sách mà dưới chân chất vạn xác người
ngu ngơ làm việc i tờ đứng về phía thường dân đói khổ
thương ruộng đồng cây lúa cõng trên lưng cả vạn lòng tham
thương con chim không có bầu trời để hót không có nơi làm tổ
thương con cá con tép chẳng có hồ nước để bơi
thương bầu không khí muốn sạch không được
thương tấc đất uất ức ra đi

chẳng thèm giao tiếp mang hơi ấm vinh thân
không ham thương trường lấy lâu dài lợi ích
không mua lòng người được tình thương trời bể
không gió để lặng im đón gió
chân thật giữa đời

mọi thứ sẽ qua
đánh đổi này bằng đánh đổi khác
gần hơn bản chất giống nòi
thanh thản
nghe
tiếng thời gian
gọi……

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

NGUYỄN DUY ký gửi một gã hề chèo trong thơ

Gã hề chèo trong thơ Nguyễn Duy luôn hiện diện trước ta, bên ta để lố bịch hoá, nhếch nhác hoá, hài hước hoá  những gì trái tim day dứt, xót xa và chia sẻ. Gã luôn luôn phóng cái nhìn tinh quái vào mỗi cảnh ngộ, mỗi thân phận, mỗi chi tiết đời sống để phát giác cái cơ chế trần thế, lật tẩy cái tâm địa trần gian, phơi bày cái nhếch nhác đời thường ở đằng sau tất cả những gì mà Nàng thơ xua, thi sĩ Nguyễn Duy xưa quen mỹ lệ hoá, kỳ diệu hoá, thiêng liêng hoá. Toàn bộ khẩu khí thơ Nguyễn Duy, tạo nên phong cách độc đáo thơ Nguyễn Duy là khẩu khí của gã hề chèo bên ngai vàng khi chia sẻ cùng Vua những điều nghiêm túc, thiêng liêng. Cương vị của gã cho phép gã tự do bôi bác, bôi bác là sứ mệnh của gã, nhưng đó là một sứ mệnh thẩm mỹ kép vừa chống lại thói cường quyền hình thức và đạo đức giả là ký sinh trùng của cái thiêng liêng cao cả, vừa làm mềm mại và gần gũi những gì là cao cả, thiêng liêng để cho nó được tẩy sạch những khí vị sách vở, lý thuyết và trở nên gần gũi, chân thật, đáng tin.



GÃ HỀ CHÈO TRONG THƠ NGUYỄN DUY

ĐỖ MINH TUẤN

Nguyễn Duy bước vào vương quốc thơ với câu hỏi ngơ ngác, ngẩn ngơ trước sức sống xanh tươi sinh động của cuộc đời : "Tre xanh, xanh tự bao giờ?". Câu hỏi ấy, ai ngờ lại vận vào anh, trở thành câu hỏi kỳ thú về thơ anh "Thơ anh xanh tự bao giờ". Từ bao giờ thơ Nguyễn Duy rung rinh màu xanh của sự sống đầy tiềm lực trên cái gốc suy tư cằn cỗi già nua? Từ bao giờ những bộ xương khái niệm của thơ Nguyễn Duy buổi đầu bỗng nhiên hồi xuân như những cây xương rồng gai góc đột nhiên bừng nở những bông hoa dịu dàng tươi tắn?

Ta không thể có câu trả lời chính xác về sự hồi xuân ấy, nhưng chắc chắn, ngày đó là ngày sinh của gã hề, một gã hề chèo với tiếng cười đau đớn và bông lơn, nghịch ngợm mà nghiêm túc, chọc phá mà đôn hậu. Trên sân khấu thời đại, mang cảm thức dân gian thấm đẫm chất đời thường, gã hề chèo trong thơ Nguyễn Duy cố đem tiếng cười chắt chiu từ những số phận chân quê với niềm kiêu hãnh nhục nhằn để át đi tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng hú gào động cỡn vô tâm, tiếng reo hò, tiếng ca và tiếng khóc ...

Từ sự nghiêm chỉnh đến mức hài hước tới sự hài hước đầy nghiêm chỉnh đó là hành trình rút gọn của đời thơ Nguyễn Duy. Chặng thơ đầu của Nguyễn Duy là chặng thơ nghiêm chỉnh đến tẻ nhạt và nặng nề ở cả hai cực yêu và ghét. Sự nghiêm chỉnh căng cứng và thái quá trong những triết lý hằm hằm, cau có quay lưng về đời sống, tự nó trở nên hài hước. Nhà thơ cố đan tết những chiếc lồng nan tre, những chiếc ổ rơm để săn bắt và mời mọc những ý nghĩa dân tộc, nhân văn. Nhưng những hàng mã thơ buổi đầu ấy chỉ dựng nên những hình nhân mỏng manh và tẻ nhạt thèm một ngọn lửa hoá thân đầy sinh khí của đời. Và ngọn lửa hài hước chợt đến, dần bén, dần loang thiêu rụi những hình nhân triết lý. Từ trong đống tro tàn còn ấm nóng của đám cháy thơ, gã hề chèo xuất hiện trong thơ Nguyễn Duy với những vũ điệu và khẩu khí dân gian đầy ma lực.

Có những khái niệm thiên tài từng khai sáng và giải phóng cho nhân loại, nhưng cũng có những bộ xương khái niệm sơ sài từng trở thành hố chôn hàng triệu mạng người. Đó là những hàng mã lý luận, những hình nộm chân lý, những bùa chú phong kiến ngu dân mà nhân loại đã phải dồn biết bao ngọn lửa chiến tranh và cách mạng mới thiêu được chúng. Nguyễn Duy cũng đã từng tạo ra khái niệm để rồi vượt thoát khỏi khái niệm, nhưng cuộc cách mạng tự diệt, tự sinh ấy lại được triển khai một cách nhẹ nhàng êm thấm dưới bàn tay đạo diễn của gã hề. Từng bước một, lặng lẽ và khôn ngoan, gã hề chèo chống lại sự nghiêm chỉnh, thế chân sự nghiêm chỉnh như một diễn viên xiếc uốn cong mình lại đặt hai bàn chân lên đứng trên vai mình để bật dậy thành một người khác mang cái mũi đỏ hoe, ngộ nghĩnh. Đó là sự kết hợp ảo thuật với uốn dẻo để tự vượt lên, tự phủ định, tự thăng hoa. Và chính bởi vì đôi chân hài hước đó luôn luôn chung với sự nghiêm chỉnh mà nó cần vượt qua một cái đầu thi sĩ suy tư và một mạch máu chân quê, nên khi gã hề chèo hiện diện, gã mang theo chiến lợi phẩm là toàn bộ những ký ức và ấn tượng về cuộc sống dân quê thường day dứt trong  nhà thơ Nguyễn Duy nghiêm chỉnh. Những bụi tre, những ổ rơm, những bà mẹ không còn là những khái niệm, những bóng ma xếp hàng thẳng tắp trong đội hình lục bát như những chiến binh triết lý lăm le tấn công vào tư tưởng, tình thương và trách nhiệm của ta. Dưới bàn tay đạo diễn của gã hề, những bà mẹ, những người vợ, những bến đò, những phiên chợ, những hoa hậu đồng quê...hiện lên trước mắt ta nhẹ nhàng hơn thấm thía hơn, bề bộn hơn nhưng siêu thoát hơn. Giọt nước mắt ngày xưa còn nguyên vẹn trong thơ, nhưng đã trở nên lung linh, sống động và kỳ ảo hơn bởi những luồng sáng ngược tàn nhẫn của cái nhìn hài hước và trở thành một nỗi đau lập thể bởi có thêm chiều kích của đời sống thực và chiều kích của sự tự thú, tự vấn, tự trào.

Gã hề chèo trong thơ Nguyễn Duy luôn hiện diện trước ta, bên ta để lố bịch hoá, nhếch nhác hoá, hài hước hoá  những gì trái tim day dứt, xót xa và chia sẻ. Gã luôn luôn phóng cái nhìn tinh quái vào mỗi cảnh ngộ, mỗi thân phận, mỗi chi tiết đời sống để phát giác cái cơ chế trần thế, lật tẩy cái tâm địa trần gian, phơi bày cái nhếch nhác đời thường ở đằng sau tất cả những gì mà Nàng thơ xua, thi sĩ Nguyễn Duy xưa quen mỹ lệ hoá, kỳ diệu hoá, thiêng liêng hoá. Toàn bộ khẩu khí thơ Nguyễn Duy, tạo nên phong cách độc đáo thơ Nguyễn Duy là khẩu khí của gã hề chèo bên ngai vàng khi chia sẻ cùng Vua những điều nghiêm túc, thiêng liêng. Cương vị của gã cho phép gã tự do bôi bác, bôi bác là sứ mệnh của gã, nhưng đó là một sứ mệnh thẩm mỹ kép vừa chống lại thói cường quyền hình thức và đạo đức giả là ký sinh trùng của cái thiêng liêng cao cả, vừa làm mềm mại và gần gũi những gì là cao cả, thiêng liêng để cho nó được tẩy sạch những khí vị sách vở, lý thuyết và trở nên gần gũi, chân thật, đáng tin. Đó cũng là cách để đau hơn một lần nữa cái nỗi đau của sự chịu đựng, vui cười. Bộ mặt nhăn nhó khi đau được thay  bằng vẻ bông lơn cười cợt, nó có vẻ làm vơi đi nỗi đau nơi kẻ khác nhưng thực tế là làm tăng thêm nỗi đau nơi thi nhân và những người đồng cảm với thi nhân. Cảm thức nhà quê, khẩu khí nhà quê của gã hề đã pha trộn những gì tầm thường gần gũi thô kệch với những gì tinh tế cao siêu, pha trộn những Thượng đế, triết nhân với những bố cu, mẹ đĩ - đó là một kiểu ăn độn truyền thống vừa để dè xẻn những cao lương mỹ vị, vừa để dễ trôi với khẩu vị bình dân.

Nhìn xuyên suốt những bông lơn tếu táo của gã hề chèo trong thơ Nguyễn Duy, ta thấy gã thường tỏ ra ghét lý thuyết và đô thị, gã hay đo đạc lý thuyết và đô thị bằng thước đo riêng của gã để lật tẩy cái ăn gian, cái đua đòi, cái giả tạo, "cân điêu" trong những diễn biến đời thường của xã hội, của gia đình và của chính tâm trí gã. Những gã tỏ ra không phải là người tàn nhẫn, khắt khe và xét nét. Tiếng cười của gã vừa là tiếng cười xót xa  rơi nước mắt trước số phận mình  số phận người thân và số phận nhân dân, vừa là sự khoan dung, tự vấn. Phải chăng, những đối tượng mà gã hề trong thơ Nguyễn Duy nhằm tới châm biếm,  mỉa mai và day dứt cũng chính là những căn bệnh lớn của thời đại - đó là sự lệch pha của những hình thức lý thuyết đạo mạo, thùng thình với thực chất kệch cỡm nhố nhăng của thời buổi đua tranh đô thị hoá bằng tác phong và cốt cách của nông dân? Về bản chất, tiếng cười ấy là một tình thương sâu sắc với con người Việt Nam trong tất cả những gì đẹp đẽ và tật nguyền của nó. Vì thế, khi gã hề chèo trong thi sĩ Nguyễn Duy đem cối xay, ổ rơm chum nước đặt giữa hè phố, đem đèn dầu đặt dưới  đèn nê-ông, đem bàn chân trần đặt trên đường phố của những đô thị văn minh nhất thì đó  là những nỗ lực cuối cùng của gã tấn công vào lý thuyết và đô thị để xé toang những phông màn giả dối, khoa trương và ngộ nhận, giúp ta đối diện với cội nguồn.

Tiếng cười đã tắt, chỉ còn lại những hình ảnh lầm lụi, lam lũ khổ nghèo và rất trớ trêu,tội nghiệp của quê hương ta, tổ tiên ta, đồng bào ta và chính bản thân ta. Sâu sắc quá và nghiêm chỉnh quá. Có lẽ, từ đây, gã hề chèo trong thơ Nguyễn Duy đã kết thúc vai trò của nó, khi nó tỏ ra mệt mỏi và trút khăn cởi áo tìm về những hình hài thiêng liêng, nghiêm túc của cuộc sống, của cội nguồn để hoá thân, ngơi nghỉ, giã biệt chúng ta. Không còn gã hề xưa, thơ Nguyễn Duy cũng khó  bề tiếp diễn. Nhưng cái ngày gã hề rời sân khấu lại chính là ngày gã hiện diện hoàn chỉnh nhất và bắt đầu sống trong ta như một diện mạo riêng, tầm vóc riêng và dáng điệu riêng, không thể nào lẫn được. Đó là phong cách thơ Nguyễn Duy , phong cách của gã hề chèo dân gian - hiện đại và trí tuệ.

Nguồn: lethieunhoncom.blogspot.com

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

NỖI NIỀM TÁC PHẨM ĐỈNH CAO (1)

Hoàng Quốc Hải
 

TNc: Tham luận này nhà văn Hoàng Quốc Hải đọc tại Đại hội VII Hội Nhà văn VN. Mười năm trôi qua vẫn còn nguyên "nỗi niềm" ấy. Nhân ĐH IX sắp họp, trang nhà xin giới thiệu cùng bạn đọc ý kiến của tác giả Vương triều sụp đổ....

Tại sao văn học Việt Nam hiện nay không có tác phẩm đỉnh cao?
Câu hỏi ấy đã bao hàm câu trả lời rồi. Thật ra trên thế giới không phải đã có nhiều quốc gia có nền văn học đỉnh cao. Và cũng không phải thời nào cũng có tác phẩm đỉnh cao.
Châu Âu suốt ba thế kỷ ( XVII – XVIII – XIX ), nền văn học xuất hiện nhiều trường phái, đạt nhiều đỉnh cao chói lọi. Nhưng sang thế kỷ XX các đỉnh cao cứ thưa vắng dần, và chỉ còn lại những bình nguyên văn học.
Nước ta không phải không có văn học đỉnh cao. Nhưng người mình thường có tư tưởng vọng ngoại. Cái gì của nước ngoài cũng xem trọng, của ta thì xem thường. Đã thế, người trong nghề lại không chịu thừa nhận ai, ngoài mình. Đó là đầu óc thiếu tự tin, nhưng lại nặng về vị kỷ. Lọai tư duy này làm con người trở nên bé mọn, và thường không được khách quan, sáng suốt.
Mười năm (1932 – 1942) của Tự lực văn đoàn làm nảy sinh các trường phái văn học:
- Lãng mạn.
- Hiện thực phê phán.
- Suy đồi. …
Các trường phái này cọ sát nhau nảy sinh khá nhiều đỉnh cao văn học. Thế nhưng sự đánh giá của cả đương đại và hậu thế khá dè dặt, thậm chí không thừa nhận.
Trong giai đoạn này ta dễ nhận thấy có một nhà văn, nếu ông sinh ở nước khác, và với những cống hiến ấy, đời phải tôn ông là bậc thiên tài. Đó là Vũ Trọng Phụng.
Vũ Trọng Phụng sống và chết trong nghèo khổ. Sinh thời, ông chỉ ao ước: “ Nếu như ở đời có được cơm mà ăn no nhỉ?”. Năm 27 tuổi, ông qua đời vì bệnh lao phổi, để lại một người con và một đống tác phẩm. Không ít trong số mấy chục tác phẩm của ông đạt tầm cao thế giới.
Vậy mà những tác phẩm ấy bị vùi lấp trên nửa thế kỷ, không một lần được tái bản. Bởi một thời gian dài người ta vu cho ông là phần tử Trốt- kít( Trosky ). Tới khi tác phảm của ông được tái bản, chị Vũ Mỹ Hằng, con gái ông đã ngoài 50 tuổi, chỉ dán mắt nhìn các tác phẩm của cha mình là tài sản chung của xã hội, theo “Luật bản quyền” vừa mới ban hành.
Chị Hằng và chồng đưa phần mộ của cha mình về ngôi vườn tại quê hương, nơi làng Mọc. Ngôi mộ được xây cất đàng hoàng, ốp đá cẩm thạch mà không có bất kỳ một tài trợ nào từ nhà nước và các hội đoàn. Sự thờ ơ đến bội bạc của đương thời và hậu thế khiến nhiều nhà văn thấy nản lòng.
Lại mười năm nữa ( 1986- 1995 ) thường gọi là “văn học thời đổi mới”. Giai đoạn này, các nhà văn Việt Nam bằng văn chương của mình, đã khuấy động toàn xã hội; đem lại cho mọi người một không khí sinh hoạt dân chủ. Công chúng độc giả trong cả nước như bị lên đồng, và họ “ngốn” tác phẩm của nhà văn như người khát trên sa mạc. Báo Văn nghệ in trên 100.000 rồi 200. 000 bản cho mỗi số, vẫn không đủ bán. Tiểu thuyết tirage thấp nhất là 10.000 bản, cao nhất tới gần 100.000 bản cho mỗi đầu sách. Thơ cũng in từ 5000 đến 10.000 bản. Thử hỏi văn chương đó ai viết ? Phần lớn các tác giả của những tác phẩm ấy vẫn còn tồn tại, và một phần không nhỏ có mặt trong Đại hội này.
Thời đó, cái 10 năm vàng son ấy, tuyệt nhiên không có công chúng nào đòi chúng ta phải có tác phẩm đỉnh cao.
Liệu có phải những gì chúng ta viết thời đó đều đã ở đỉnh cao, hay bởi giai đoạn đó văn học đã đề cập một cách thỏa đáng khát vọng của công chúng. Có lẽ vậy. Vấn đè là khát vọng của số đông được thỏa mãn.
Và 10 năm lại đây ( 1996-2005 ), số lượng tác phẩm của các nhà văn phát hành không phải là ít, nhưng không khuấy động được công chúng. Không khí văn học bình lặng như mặt nước ao thu. Khá nhiều tác phẩm rất đáng đọc. Nó tốt cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Nhưng công chúng bạn đọc vẫn cứ thờ ơ, và đòi nền văn học đương đại phải có tác phẩm đỉnh cao. Đòi hỏi đó là nỗi bức xúc của công chúng trước hiện thực xã hội. Bởi soi vào tác phẩm văn học, họ cảm thấy hẫng hụt.
Thật ra, cái nền hiện thực xã hội trong 10 năm gần đây , dư thừa chất liệu cho các nhà văn Việt Nam làm nên tác phẩm đỉnh cao. Đây là cơ hội, dù là cơ hội đem lại nhiều bất hạnh cho số đông, nhưng nếu bỏ qua là một tiếc nuối, một ân hận. Bức tranh xã hội đủ màu sắc. Vui có, buồn có, bi thương có, âm mưu thủ đoạn có, tham nhũng hối lộ có, lừa đảo có, đểu cáng có, bất hiếu bất mục , bất nhân bất nghĩa… không thiếu một loại nào. Đặc biệt lũ cơ hội xuất hiện nhan nhản. Đó là những kẻ tiếm dụng quyền hành để tước đoạt trắng trợn tài sản quốc gia, hối hả tích lũy vốn liếng để mau chân chạy sang hàng ngũ tư bản. và bây giờ chúng đang âm mưu rửa tiền để hợp thức hóa và công khai khối tài sản khổng lồ mà chúng chiếm được bằng các thủ đoạn bất lương. Từ bức tranh xã hội này, công chúng đòi hỏi nhà văn bằng ngòi bút và lương tâm của mình, vạch mặt bọn chúng, “ không cho chúng nó thoát!”. Phải cho tái xuất các gương mặt kiểu “Nghị Quế “, “Nghị Hách”, “Xuân tóc đỏ”, “Bà phó Đoan”, “Bá Kiến”, “Chí Phèo” … thời hiện đại.
Bức tranh hiện thực xã hội phong phú là vậy mà không được phản chiếu trong tác phẩm,vì thế công chúng mới chối bỏ. Và đó là điều tệ hại nhất đối với nhà văn. Đó còn là dấu hiệu báo trước một nền văn học đang vững chắc bước vào giai đoạn suy thoái. Có người đặt vấn đề, hay là nhà nước không đầu tư tiền bạc thỏa đáng cho nhà văn sáng tác?
Không phải vậy. Tiền bạc là cần thiết nhưng không phải là nhân tố cấp bách với nhà văn.
Ta chẳng từng thấy Ngô Tất Tố phải bán non tác phẩm cho nhà xuất bản Mai Lĩnh, để lấy tiền sống đó sao? Lại chẳng thấy Nam Cao, Vũ Trọng Phụng sống trong khốn khó, mà các ông vẫn để lại cho đời những tác phẩm đỉnh cao đó sao?
Thật ra muốn có tác phẩm đỉnh cao, ngoài yếu tố tài năng của nhà văn, còn đòi hỏi xã hội phải chuẩn bị cho nó.
Thời Vũ Trọng Phụng, Nam Cao các mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn dân tộc và đế quốc đã phát triển tới đỉnh điểm. Các trào lưu văn học đua nhau nảy nở thành trường phái mà không có sự gò ép, cấm đoán. Chính quyền thực dân chỉ khống chế các đoàn thể chính trị, cách mạng. Các nhà văn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Xuân Sanh… tiêu biểu cho các trường phái đều có những tác phẩm đỉnh cao.
Muốn nói gì thì nói, 10 năm đó ( 1932-1942 ), các trường phái văn chương đua nhau nảy nở, đã là chất xúc tác cho các nhà văn sáng tạo. bản thân mỗi nhà văn đều có lòng yêu ghét rõ ràng, và được viết tất cả những gì mình viết, mà không sợ chính quyền thực dân cản trở.
Tình hình hiện nay, phải thừa nhận điểm yếu của văn chương Việt Nam là đơn điệu quá. Trên nửa thế kỷ qua tất cả chỉ nói theo một giọng điệu, viết theo một thi pháp. Bản thân nghệ thuật là khám phá, là luôn luôn tìm tòi đổi mới. Vậy mà 60 năm qua chỉ đi mỗi một con đường để cùng đến một mục tiêu làm gì chẳng cũ kỹ, sáo mòn. Lẽ ra phải tạo điều kiện để có nhiều con đường khác nhau, cùng đến chung một đích; đó là dân tộc, là Tổ quốc, là chủ nghĩa yêu nước.
Vậy cái gì cản trở nhà văn? Phải chăng quyền tự do sáng tác, tự do công bố tác phẩm của nhà văn bị hạn chế? Nó còn là sự tự kỷ ám thị, lâu năm trở thành nỗi sợ hãi, tới mức không dám viết về những điều mình nghĩ. Bởi chế tài những sai sót của nhà văn không được minh bạch, không có luật mà phụ thuộc vào định hướng chung chung. Và rồi ai cũng có quyền phá hỏng cả một sáng tác phẩm nghiêm túc của nhà văn, thậm chí phá nát cả sự nghiệp và cuộc đời nhà văn bằng nhận thức thấp kém của chính một người quyền uy nào đấy. Tình trạng đó tới nay vẫn chưa chấm dứt. Thỉnh thoảng vẫn thấy những tác phẩm bị đình chỉ phát hành, bị thu hồi nhưng không công bố công khai, khiến tác giả và công chúng cũng không biết vì sao nữa.
Để chấm dứt tình trạng mù mờ đó cần phải xây dựng một xã hội đối thoại, xã hội dân chủ. Vì vậy, mọi thứ phải được minh bạch trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Tôi đề nghị nhà nước hãy trả lại cho văn chương báo chí quyền tự do sáng tác, mà nhà nước đã trưng dụng trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm vừa qua. Đó không chỉ là quyền tự do sáng tác của nhà văn, nhà báo mà còn là quyền được thông tin khách quan của công chúng. Chiến tranh đã chấm dứt 30 năm rồi mà văn chương báo chí vẫn sống trong cảnh mù mờ. Cả nước có tới gần 1000 tờ báo và tạp chí, nhưng quy về chỉ có mỗi một Tổng biên tập, tránh sao khỏi sự đơn điệu và sáo mòn.
Tròn 60 năm kể từ ngày văn chương báo chí đi theo cách mạng, tỉ lệ mắc sai lầm về tư tưởng, về chính trị, kinh tế trong đội ngũ văn chương báo chí là thấp nhất so với bất cứ một ngành nghề nào. Thế mà độ tin cậy của Nhà nước đối với nhà văn lúc nào cũng ở mức thấp nhất.
Nhân loại đang bước mạnh vào kỷ nguyên hội nhập. Những ngành có tính chất sống còn của một quốc gia, từ xưa nhà nước vẫn độc quyền nắm giữ như thông tin viễn thông, điện lực, tài chính ngân hàng, nhà nước còn mở cửa mời gọi tư bản đến hùn hạp tỉ lệ đến 30%. Nhiều phương diện được thúc đẩy cổ phần hóa, tư nhân hóa. Vậy mà chỉ một tờ báo, một nhà xuất bản tư nhân lại không thể chấp nhận. Tiếc thay, những quyền đó đã được ghi liên tục trong hiến pháp từ ngày mở nước tới nay. Tôi đề nghị Nhà nước nên thành lập một cơ quan kiểm duyệt. Ví dụ đó là Cục kiểm duyệt chẳng hạn. Đặt nó trong Bộ nào, Ngành nào tùy Nhà nước.
Công cụ để giám sát, chế tài là “luật báo chí”, “luật xuất bản”, “luật sở hữu trí tuệ”; đồng thời tham chiếu cả “luật dân sự”, “luật hình sự”.
Mọi công dân Việt Nam đều phải tuân thủ luật pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều đó có nghĩa rằng, công dân nhà văn Việt Nam không được phép viết ra, cũng như không được phép công bố những điều mà luật pháp ngăn cấm.Ví dụ tuyên truyền cho bạo lực,dâm ô,kích động các phần tử phản động chống lại nhà nước…Trái lại,công dân nhà văn Việt Nam có quyền được viết,được công bố những sáng tác phẩm của mình trên các phương tiện thông tin và in ấn,với những nội dung mà luật pháp không cấm.
Đương nhiên,đây là quyền công dân,lẽ ra phải được tôn trọng,được bảo hộ song hành với việc ban bố các đạo luật trên.
Chúng ta đang sống trong một xã hội công dân,đòi hỏi mọi sự phải được giải quyết minh bạch.Vì vậy,những tác phẩm bị kiểm duyệt toàn bộ hoặc kiểm duyệt một phần,cần được công bố công khai.Và nói rõ tác giả đã vi phạm những điều nào ,điều nào theo luật định.Nếu tác giả không chấp nhận,họ có quyền khiếu nại việc đó ra tòa dân sự.
Một khi mọi việc đã minh bạch,mà nhà văn không đem lại được điều gì mới mẻ vào văn chương,thì đúng là họ bất tài.Mọi trách cứ,mọi lên án của công chúng bạn đọc đều trở nên có lý.
Điều hiển nhiên,tác phẩm văn học đỉnh cao không phải là thứ cầu được, ước thấy.Nó đòi hỏi nhà văn phải có tài năng lớn,trí tuệ siêu việt,nhân cách cao thượng.Hơn nữa,tầm tư tưởng phải vượt thoát ra khỏi sự cám dỗ của đời thường.Nhà văn cỡ này phải có tâm huyết tới mức tử vì đạo.Những phẩm chất trên,các nhà văn Việt Nam đều có cả,nhưng thượng đế ban cho họ hơi ít.
Láng Thựong ngày 21 tháng 4 năm 2005
_____________________________
(1) Tham luận đọc tại Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII.
(Rút trong tập KẺ SĨ TRƯỚC THỜI CUỘC xuất bản 2014)

Nguồn: trannhuong.net

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

TRƯỚC MẶT LÀ MỘT BÔNG HOA

Mơ hồ về một bông hoa trước mặt
và những cái tên và những cái nhìn
cái tên cũ cái nhìn không mới
cũ như anh không đáng nói
nhìn như em không buồn hỏi
một làn gió tạt ngang

Qua mặt anh là em
hay day dứt vo tròn vứt bỏ
lăn lóc bước chân
không đủ dấu hằn
nhòe nhoẹt gửi vào quên lãng

Vùng tan vỡ
em thấy bóng bước qua
như một lẽ tự nhiên không thể nào khác được
có thể anh đang chạy theo một bông hoa nào phía trước
vượt thời gian đặt cọc
em quăng mắt chẻ đôi
sứt mẻ bên đường

Phía trước anh có một bông hoa
thật hay đùa làm lòng em chợt buồn chợt ngại
mình nên đi hay cứ mãi nhạt nhòa
để trở thành phía sau cỏ dại
bất ngờ anh quay lại
thì em trước mặt một bông hoa

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

NVTPHCM- Đại hội VII Hội Nhà văn TP. HCM nhiệm kỳ 2015-2020 đã có tân Chủ tịch là nhà văn Trần Văn Tuấn; hai Phó Chủ tịch là nhà thơ Phạm Sỹ Sáu và nhà thơ Phan Hoàng; nhà văn Trần Nhã Thụy giữ chức Trưởng ban Kiểm tra...

Sáng nay, tại Hội trường T78 số 145 Lý Chính Thắng, quận 3, TP.HCM đã diễn ra Đại hội Hội Nhà văn TP.HCM nhiệm kỳ VII. Đến tham dự Đại hội nội bộ của Hội có hơn 220 đại biểu là những nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận phê bình, dịch giả trong tổng số trên 400 hội viên của Hội.

Nhạc sĩ Trần Long Ẩn - Uỷ viên BCH Đảng đoàn Liên hiệp các Hội VHNT TP. HCM và nhà báo Dương Liên Chi - Phó phòng phụ trách Phòng Văn hoá văn nghệ Ban Tuyên giáo Thành uỷ cũng đã được mời đến dự.
Đại hội VII Hội Nhà văn TP. HCM

Để điều hành Đại hội, các đại biểu đã bầu Đoàn Chủ tịch gồm 6 nhà văn: Lê Quang Trang, Trần Văn Tuấn, Phạm Sỹ Sáu, Hoài Vũ, Bích Ngân và Phan Hoàng; Đoàn Thư ký gồm 3 nhà văn: Lệ Bình, Trần Nhã Thuỵ, Ngô Thị Hạnh.

Sau khi thảo luận và thông qua Quy chế Đại hội, Báo cáo Tổng kết nhiệm kỳ VI và phương hướng nhiệm kỳ VII, Đại hội đã tiến hành bầu cử Ban Chấp hành Hội khoá mới. Dù được BCH khoá VI đề cử trong danh sách 11 ứng viên ban đầu dựa trên kết quả phiếu thăm dò trước Đại hội, nhưng nhà thơ Lê Quang Trang - Chủ tịch Hội khoá VI đã xin rút lui vì lý do cá nhân.

Có 20 ứng viên đã được đề cử trong danh sách cuối cùng để bầu ra BCH mới mà Đại hội biểu quyết dự kiến là 11 thành viên. Tuy nhiên, qua bỏ phiếu kín, chỉ có 9 ứng viên vượt qua số phiếu quá bán trúng cử vào BCH Hội Nhà văn Thành phố nhiệm kỳ VII (2015-2020), trong đó người có số phiếu được bầu cao nhất là nhà thơ Phan Hoàng. Còn nhà văn Trần Nhã Thuỵ là ứng viên duy nhất được đề cử tại Đại hội đã trúng cử vào BCH.

Cuối ngày, BCH Hội khoá VII đã họp và bầu ra một Chủ tịch, hai Phó Chủ tịch và Trưởng ban Kiểm tra. Sau khi BCH tiến hành bỏ phiếu kín, nhà văn Trần Văn Tuấn có số phiếu cao nhất, giữ chức Chủ tịch; nhà thơ Phạm Sỹ Sáu và nhà thơ Phan Hoàng giữ chức Phó Chủ tịch; nhà văn Trần Nhã Thuỵ giữ chức Trưởng ban Kiểm tra.

Chủ tịch Trần Văn Tuấn cùng hai Phó Chủ tịch Phạm Sỹ Sáu và Phan Hoàng cũng là 3 Uỷ viên Thường vụ BCH Hội Nhà văn TP. HCM khoá VII.

Sáng ngày mai 17.6, Đại hội chính thức Hội Nhà văn TP.HCM nhiệm kỳ VII sẽ được tiến hành, tiếp tục thảo luận triển khai phương hướng hoạt động và nhiệm vụ sắp tới, BCH khoá cũ từ nhiệm, ra mắt BCH khoá mới.

Đại hội lần này có một số Uỷ viên BCH được đánh giá có độ tuổi còn khá trẻ nhưng giàu thành tích hoạt động văn học và nhiệt huyết với công tác của Hội.

9 Uỷ viên BCH Hội Nhà văn TP.HCM khoá VII gồm các nhà văn, nhà thơ: Trần Văn Tuấn, Phạm Sỹ Sáu, Phan Hoàng, Trần Nhã Thụy, Trương Nam Hương, Trầm Hương, Lê Thị Kim, Bích Ngân, Phan Trung Thành.

PHÙNG HIỆU

Nguồn: nhavantphcm.com.vn